Trung tâm xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có diện tích 63,5 ha nằm trên địa bàn xã Tóc Tiên, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập theo Quyết định số

137/QĐ.UBT.TCHCSN ngày 28 tháng 3 năm 1998 và Quyết định kiện toàn số 2117/QĐ-UBND ngày 24/01/2014 của UBND tỉnh BR-VT về việc kiện toàn tổ chức bộ máy TTXH.

 

Kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Trung tâm xã hội, được sự cho phép của lãnh đạo sở Lao động TBXH về việc tổ chức Hội thi, Hội thao kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Trung tâm xã hội (28/3/1998-28/32018) và ngày Công tác xã hội Việt Nam (25/3/20180). Xin điểm lại một số nét khái quát chặng đường 20 năm hình thành và phát triển của Trung tâm xã hội qua những giai đoạn như sau:

 

Thứ nhất: Giai đoạn những tháng năm đầu mới thành lập (1998-2001):

 

Trung tâm Xã hội hình thành trên cơ sở Quyết định số 600/LĐTBXH-QĐ ngày 15/4/1995 của Bộ Trưởng Bộ LĐTB&XH với chức năng nhiệm vụ được giao như: tổ chức tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, phục hồi chức năng, giải quyết hồi gia, hòa nhập cộng đồng cho 05 nhóm đối tượng sau: người khuyết tật về thể chất và tâm thần; người già yếu cô đơn; trẻ mồ côi; trẻ vô thừa nhận và người lang thang. Những ngày tháng đầu đi vào hoạt động đơn vị gặp muôn vàn khó khăn như:

Về đội ngũ CBVC ban đầu chỉ có 27 người trong đó CBVC có trình độ đại học chỉ có 02 người, cao đẳng: 01 người, trung cấp chuyên nghiệp: 07 người còn lại là chưa qua đào tạo. Cơ sở vật chất ban đầu tiếp nhận với 03 căn nhà (C1, C2 và C3) chỉ 340 m2 dùng để làm nhà ở cho khoảng 67 đối tượng được xây dựng từ năm 1996 do Cơ sở chữa bệnh bàn giao lại và 01 căn nhà tạm bằng tranh tre dùng làm nhà bếp nấu ăn cho đối tượng xã hội. Ngoài bốn bức tường bao xung quanh còn lại hầu như trống rỗng, không có nhà làm việc, không máy móc, thiết bị, không có phương tiện…đơn vị phải mượn nhờ cơ sở cũ của Cơ sở chữa bệnh để làm văn phòng. Đứng trước tình huống vô cùng khó khăn, lãnh đạo và tập thể CCVC, NLĐ đã nhất trí đồng lòng nhanh chóng bắt tay vào khắc phục khó khăn, chỉ trong vòng 02 tháng đơn vị đã hoàn thành 02 căn nhà mái lá, 01 căn khoảng 50 m2 dùng làm phòng làm việc cho các phòng nội trại và 01 căn khoảng 150 m2 dùng làm văn phòng, phòng làm việc cho Ban Giám đốc và phòng Tổng hợp – Tổ chức- Hành chính. Về đất đai để sản xuất đơn vị được giao hơn 63 ha nhưng đa phần là đất bạc màu (chỉ trồng điều) nhiều năm không được cải tạo, thiếu nước tưới nên thu nhập từ canh tác là không đáng kể. Từ thực tế này đơn vị đã xin chủ trương của UBND tỉnh, Sở LĐTBXH để cải tạo đất, phân khu để sản xuất bao gồm: 2,5 ha ao nuôi cá, 04 ha trồng xoài, nhãn và trồng cỏ để chăn nuôi bò – dê, 02 ha trồng các loại rau. Phần còn lại đơn vị chủ động liên kết với đối tác để trồng và sản xuất tinh bột mỳ.

Đến cuối năm 2001, đơn vị đã có nhiều chuyển biến rõ rệt theo chiều hướng tăng thêm như: số đối tượng quản lý và nuôi dưỡng thường xuyên là 208 đối tượng, số tiếp nhận trong năm là 433 đối tượng; số lượng CBVC cũng được bổ sung tăng lên 34 người. Một số hạng mục khác như nhà ở của đối tượng, nhà ăn, nhà y tế.. được đầu tư xây dựng mới, được trang bị thêm phương tiện dùng cho việc đi lại, hội họp và chở đối tượng đi cấp cứu. Số Đảng viên trong Chi bộ từ 07 đồng chí ngày thành lập đơn vị đã tăng lên đến 13 đồng chí; đoàn viên Công đoàn tăng từ 27 lên 34 người, số lượng đoàn viên trong Chi đoàn từ 06 người tăng lên 12 người.

 

Thứ hai: Giai đoạn chuyển mình đi lên từ gian khó (2002-2010):

Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở LĐTB&XH, các sở ngành có liên quan về lĩnh vực bảo trợ xã hội cũng như sự nỗ lực của tập thể Ban lãnh đạo và CCVC, NLĐ trong toàn đơn vị nên Trung tâm có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt; cụ thể như sau:

 

Về chức năng nhiệm vụ: trong giai đoạn này đơn vị có nhiều bổ sung về chức năng nhiệm vụ bằng các văn bản của trung ương và địa phương như: Quyết định kiện toàn số 2117/QĐ-UBND ngày 24/01/2014 của UBND tỉnh BR-VT về việc kiện toàn tổ chức bộ máy TTXH Quyết định 56/2007/QĐ.UBND ngày 24/8/2007 của UBND tỉnh BR-VT, Quyết định 2382/QĐ-UBND ngày 14/7/2008 của UBND tỉnh BR-VT, Thông tư 18/2000/TT-BLĐTBXH ngày 28/7/2000 của Bộ LĐTB&XH; Nghị định số 68/2008/ND-CP ngày 30/5/2008…Song song với việc bổ sung thêm chức năng nhiệm vụ thì cơ cấu tổ chức của đơn vị cũng được bổ sung tăng lên thành 06 phòng (gồm TC-HC, Y tế -PHCN, Giáo dục-Dạy nghề, QL-Bảo vệ, QL-Chăm sóc và Nuôi dưỡng) theo hướng chuyên biệt phù hợp hơn.

 

Về quản lý đối tượng: Do được bổ sung, mở rộng thêm chức năng nhiệm vụ nên số đối tượng được tiếp nhận, quản lý tại Trung tâm ngày càng tăng lên; tổng quản lý hàng năm gần 1000 đối tượng, mỗi năm tiếp nhận khoảng 540 đối tượng, giải quyết cho ra trại khoảng 500 đối tượng, số nuôi dưỡng thường xuyên hàng ngày tại Trung tâm từ 420-450 đối tượng.

 

Về đội ngũ CCVC,NLĐ: Đây là giai đoạn đánh dấu sự lớn mạnh về mọi mặt của đội ngũ CCVC,NLĐ Số lượng CCVC,NLĐ tăng dần theo các năm: 36 người năm 2002, 50 người năm 2004; 93 người năm 2006 và 146 người năm 2010. Cùng với tăng số lượng thì chất lượng đội ngũ CCVC,NLĐ cũng ngày càng được chú trọng nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị. Đến cuối năm 2010, trong toàn đơn vị có 15 CBVC có trình độ đại học, 03 người có trình độ cao đẳng, 35 người có trình độ trung cấp chuyên nghiệp; 01 người là cử nhân chính trị và gần 20 người có trình độ tương đương trung cấp lý luận chính trị.

 

Về cơ sở vật chất: Trung tâm được đầu tư xây dựng mở rộng thêm hệ thống nhà ở phân chia đối tượng tâm thần thành 02 khu nam nữ, nhà sinh hoạt chung cho đối tượng, hệ thống nhà ăn, các lớp học, xưởng học nghề, đường đi nội bộ…đến cuối năm 2010 tổng diện tích xây dựng: 5.433m2, tăng gần 16 lần so với ngày thành lập (trong đó: nhà văn phòng, nhà ở công vụ: 578m2; nhà xưởng phục vụ dạy nghề: 130m2; nhà ăn, nhà ở cho đối tượng: 1.724m2 còn lại là sân, đường đi…).

Phương tiện làm việc và đi lại; hệ thống thông tin liên lạc, công nghệ thông tin cũng được quan tâm đầu tư trang bị; đến cuối năm 2010 đơn vị có: 01 máy cày, 04 xe ô tô các loại, 100% phòng làm việc của các phòng nghiệp vụ đều được trang bị điện thoại liên lạc, máy tính để bàn, kết nối hệ thống internet trực tuyến và có website để phục vụ cho công việc.

Về đời sống của CBVC và đối tượng: đời sống của CBVC ngày càng nâng lên rõ rệt, so với năm 1998 thu nhập bình quân năm 2010 tăng gấp 15 lần (5.340.000/345.000); ngoài ra CBVC còn được hỗ trợ thêm quần áo đồng phục, giày dép, tham quan du lịch hàng năm… Nhờ chính sách trợ cấp hàng tháng của UBND tỉnh tăng lên, phần còn lại là sự hỗ trợ từ nguồn sản xuất của đơn vị đến năm 2010 đời sống hàng ngày của đối tượng cũng tăng lên gấp 5,5 lần (22.000/ngày so với 4.000/ngày).

 

Về tổ chức Đảng và các đoàn thể: Cùng với sự tăng nhanh về số lượng CBVC, số lượng đảng viên, đoàn viên TNCSHCM, Công đoàn và các tổ chức đoàn thể khác trong đơn vị ngày càng lớn mạnh và hoạt động đều đặn, có hiệu quả hơn. Đến năm 2010, Chi bộ đảng có 22 đồng chí, Chi đoàn TNCSHCM có 54 đoàn viên, Công đoàn CSTV có 138 thành viên, Chi hội Cựu chiến binh có 15 hội viên và Chi hội chữ thập đỏ với 25 hội viên.

Sự nỗ lực của tập thể ban lãnh đạo và CBVC trong đơn vị giai đoạn này được UBND tỉnh xếp hạng là Trung tâm hạng I, Chi bộ Trung tâm Xã hội nhiều năm liền được công nhận là Chi bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu; tập thể CBVC Trung tâm được Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH tặng 01 bằng khen, UBND tỉnh BR-VT tặng 03 bằng khen, Trung ương Hội chữ thập đỏ tặng 02 bằng khen và nhiều năm liền được công nhận là tập thể lao động xuất sắc cấp tỉnh.

 

Thứ ba: Trưởng thành (2011- 2013)

Bên cạnh những thành quả của giai đoạn 2002-2010, cuối giai đoạn này đơn vị nổi lên 02 vấn đề tồn tại là: diện tích nhà ở của đối tượng chật hẹp bình quân chỉ 3,4m2/người đạt 43% so với định mức (8.0 m2 /người theo nghị định 68/CP/2008/NĐ-CP); nội bộ mất đoàn kết. Từ thực tế này lãnh đạo đơn vị và toàn thể CCVC,NLĐ nhanh chóng đồng sức đồng lòng cùng tháo gỡ vướng mắc đi lên. Trong khoảng thời gian hơn 02 năm, đơn vị đạt được những thành quả nỗi bật như sau:

 

Về Cơ sở vật chất: đây là giai đoạn Trưởng thành về mọi mặt của đơn vị khẳng định vị trí là một cơ sở bảo trợ xã hội hàng đầu, có uy tín trong ngành và trong toàn tỉnh. Được sự quan tâm của Tỉnh ủy – UBND tỉnh – lãnh đạo ngành LĐTBXH và các Sở ngành liên quan, từ năm 2011 – 2013 đơn vị được đầu tư xây dựng toàn bộ cơ sở mới với tổng giá trị hơn 50 tỷ, đồng bao gồm tất cả các hạng mục nhằm đáp ứng nhu cầu về chổ ở, khám chữa bệnh, sinh hoạt cho đối tượng và nơi làm việc, nghỉ ngơi cho CBVC đảm bảo khang trang, sạch đẹp.

 

Về đội ngũ CBVC: Cấp ủy, Ban Giám đốc Trung tâm luôn xác định CCVC,NLĐ là khâu then chốt quyết định mọi thắng lợi trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của đơn vị. Do đó việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cho CBVC là điều cần thiết và nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu về khâu cán bộ trong giai đoạn này. Tính đến cuối năm 2012, đơn vị tạo điều kiện cho 28 CBVC đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị gồm: 01 cao cấp chính trị, 01 thạc sỹ, 01 đại học và 25 TCCN. Nhờ sự quan tâm đầu tư đúng mức nên trình độ của CBVC đã nâng lên góp phần nâng cao công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục-dạy nghề cho đối tượng, trong toàn đơn vị có 22 người có trình độ Đại học-Cao đẳng, 59 người có trình độ TCCN, 04 người có trình độ sơ cấp chiếm tỷ lệ 40% trên tổng số CBVC. Trong giai đoạn này trung bình mỗi năm đơn vị có khoảng 26 CBVC được cử đi đào tạo, chiếm tỷ lệ 18% tổng số CBVC và vượt chỉ tiêu 8% so với nghị quyết hội nghị CBVC hàng năm.

 

Về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn:

Công tác quản lý: Tất cả đối tượng ra vào trại được thực hiện đúng quy trình theo quy định của pháp luật; hồ sơ ra vào trại của đối tượng được quản lý chặt chẽ trên cơ sở pháp lý và thẩm quyền phân cấp. Tỷ lệ bỏ trốn trên tổng quản lý giảm chỉ còn 1,0% (giai đoạn I là 3,0%).

 

Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng: đối tượng được phân thành từng khu nhà riêng biệt theo giới, theo tình trạng sức khỏe để CBVC trực theo dõi, chăm sóc 24/24. Những đối tượng bệnh năng vượt khả năng điều trị được chuyển viện tuyến trên đơn vị cử CBVC trực theo dõi phục vụ đảm bảo 24/24. Những đối tượng qua đời nếu không có thân nhân được đơn vị tổ chức hỏa táng chu đáo trong điều kiện kinh phí cho phép, sau đó thực hiện quản lý di cốt tại chùa và thờ phụng tại nhà thắp nhang cho đối tượng theo truyền thống của dân tộc. 100% đối tượng nhập trại đều được đảm bảo chế độ ăn uống theo tiêu chuẩn quy định của UBND tỉnh.

 

Công tác chăm sóc sức khỏe – phục hồi chức năng: được sự quan tâm đầu tư đúng mức về nhân lực cũng như trang thiết bị (PHCN), Trung tâm có đội ngũ viên chức y tế có đủ trình độ, năng lực và kinh nghiệm (01 BS, 01 dược sỹ, 05 kỹ thuật viên phục hồi chức năng và 08 y sỹ) để chăm sóc, điều trị thường xuyên cho hơn 400 bệnh nhân. Mỗi năm lực lượng CBVC y tế thực hiện khám và điều trị nội trú cho khoảng 1000 lượt đối tượng, khám và điều trị ngoại trú khoảng 6000 lượt, phục hồi chức năng cho khoảng 700-800 lượt, cấp phát thuốc cho khoảng 120.000-130.000 lượt…từ đó đã giảm tỷ lệ đối tượng tử vong/tổng quản lý từ 1,2% trong giai đoạn I xuống còn 0,73% trong giai đoạn hiện nay.

 

Công tác giáo dục – dạy nghề, tăng gia sản xuất: đơn vị vẫn luôn đảm bảo 100% đối tượng nhập trại còn khả năng tiếp thu được tư vấn về pháp luật, đạo đức; các đối tượng mù chữ đều được bố trí học văn hóa xóa mù chữ trong thời gian ở tại Trung tâm. Các đối tượng còn lại tùy tình hình sức khỏe, khả năng nhận thức Trung tâm bố trí cho lao động trị liệu, lao động hướng nghiệp nhằm cải thiện thêm đời sống hàng ngày. Trong giai đoạn này trung bình mỗi năm có 1.190 lượt đối tượng được dự các lớp tư vấn đạo đức – pháp luật, 200 lượt được bố trí học các lớp xóa mù chữ và 210 lượt được hướng nghiệp – lao động trị liệu. Kết quả tăng gia sản xuất trung bình đạt 13.000kg rau, 4000kg cá, 6000kg thịt heo và 1400kg đậu phộng/năm; liên kết trồng 35,2 ha cao su tăng trưởng tốt.

 

Công tác tổ chức – hành chính: công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, quy hoạch, đạo tạo -bồi dưỡng, sử dụng CBVC, thi đua khen thưởng và kỷ luật được thực hiện đúng quy định hiện hành. Đơn vị luôn đảm bảo quyền lợi cho 100% CBVC như chế độ nâng lương (theo niên hạn và trước thời hạn) nghỉ phép, lễ, tết, chế độ bảo hiểm…Ngoài ra, các chế độ phúc lợi khác cũng được quan tâm chăm lo đúng mức trong điều kiện có thể như: tham quan du lịch, giày dép, quần áo đồng phục, hỗ trợ cơm trưa, khám sức khỏe thường niên, nhà ở tập thể…Tình hình an ninh trật tự luôn ổn định. Các nội quy, quy chế của đơn vị được sửa đổi bổ sung theo hướng tinh gọn phù hợp với tình hình mới. Công văn đi, đến được xử lý nhanh chóng, chính xác, chế độ văn thư lưu trữ, bảo mật thực hiện đúng quy định của nhà nước.

 

Công tác tài chính: công tác quản lý, sử dụng tài chính, công sản được thực hiện theo luật ngân sách nhà nước; được các đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước và quyết toán kinh phí hàng năm do Sở LĐTB&XH thực hiện đánh giá cao. Các hoạt động chi tiêu, mua sắm luôn được thực hiện đúng tinh thần quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và đảm bảo công khai, dân chủ và có sự kiểm tra giám sát của bộ phận có chuyên môn trong đơn vị.

Nhờ những nỗ lực của tập thể lãnh đạo Chi ủy, Chi bộ, Ban Giám đốc và sự hỗ trợ tích cực của toàn thể CBVC trong vòng 01 năm đơn vị đã hàn gắn và xây dựng mối đoàn kết vững mạnh. Mọi mặt của đơn vị đều ổn định và phát triển bền vững được lãnh đạo Đảng ủy, Ban Giám đốc ngành LĐTBXH đánh giá cao. Đến năm 2012, Chi ủy – Chi bộ đã được công nhận “trong sạch vững mạnh”, Công đoàn CSTV được công nhận là “trong sạch vững mạnh xuất sắc”, Chi đoàn TNCSHCM là “Chi đoàn vững mạnh xuất sắc”, Chi hội CCB được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Chi hội Chữ thập đỏ được Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam tặng 01 bằng khen và tập thể đơn vị được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở thành đơn vị BTXH đứng hàng đầu trong ngành.

 

Thứ Tư: Giai đoạn đầu đổi mới trong hoạt động theo hướng chuyên nghiệp (2013 -2018).

Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020 của Thủ Tướng Chính ; Quyết định số: 1215/QĐ-TTg,  ngày 22 tháng 7 năm 2011, về việc Phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần,người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020;Thông tư số 01/2015/TT-BLĐTBXH, ngày 06 tháng 01 năm 2015, Về việc hướng dẫn về quản lý trường hợp với người khuyết tật.

 

Bên cạnh những thành quả của giai đoạn 2011- 2013, cuối giai đoạn này đơn vị lại phát sinh 03 vấn đề tồn tại là: diện tích nhà ở của đối tượng nữ chật hẹp bình quân chỉ 3,4m2/người đạt 43% so với định mức (8.0 m2 /người theo nghị định 68/CP/2008/NĐ-CP); nguồn chất đốt ngày càng khó khăn, hệ thống bếp nấu ăn xuống cấp, trình độ chuyên môn của VC-NLĐ, không đồng đều, phần lớn NLĐ chưa được đào tạo chuyên môn nghề công tác xã hội. Từ thực tế này lãnh đạo đơn vị đã có chủ trương, hoạch định và toàn thể CCVC,NLĐ đồng lòng quan điểm cùng tháo gỡ vướng mắc giải quyết tồn tại. Trong khoảng thời gian hơn 04 năm, đơn vị đạt được những thành quả nỗi bật như sau:

 

Về Cơ sở vật chất: Đây là giai đoạn phát triển và vững mạnh về mọi mặt của đơn vị khẳng định vị trí Công tác xã hội là chuyên nghiệp, cơ sở bảo trợ xã hội là hàng đầu, có uy tín trong ngành và trong toàn tỉnh. Được sự quan tâm của Tỉnh ủy – UBND tỉnh – lãnh đạo ngành LĐTBXH và các Sở ngành liên quan, từ năm 2013 đến nay đơn vị được đầu tư thêm đang xây dựng mới mở rộng 02 khu nhà ở cho đối tượng với tổng giá trị hơn 29 tỷ đồng VN để đảm bảo nơi ăn ở, sinh hoạt cho các đối tượng. Ngoài ra đơn vị còn xin chủ trương của Giám đốc Sở huy động nguồn từ thiện xã hội hóa ASXH dự án Mua sắm hệ thống nồi hơi và nồi nấu nước, thức ăn thiết bị phục vụ nấu ăn cho đối tượng với tổng kinh phí là 583.000.000đ. Trong đó tiền mặt là 443.300.000đ. Bằng hiện vật là 02 tủ hấp cơm trị giá 140.000.000đ. Về hiệu quả hệ thống nồi hơi và nồi nấu nước, thức ăn:

* So với bếp củi trước đây, thì hệ thống nồi hơi này tiết kiệm được 40% nguyên liệu làm chất đốt tiết kiệm kinh phí giúp tăng được khẩu phần ăn cho đối tượng là 6.000đ/người/ngày.

* Đảm bảo an toàn cho nhân viên trong quá trình chế biến thức ăn và đảm bảo mỹ quan bếp tập thể.

* Rút ngắn thời gian chế biến, nấu ăn cho nhân viên chăm sóc để có thời gian tham gia chia khẩu phần ăn cho đối tượng……. Về đội ngũ CCVC,NLĐ:

Chi ủy, lãnh đạo đơn vị luôn xác định CCVC,NLĐ là khâu then chốt quyết định mọi thắng lợi trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của đơn vị. Do đó việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cho CCVC,NLĐ  là điều cần thiết và nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu về khâu cán bộ trong giai đoạn này để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ được giao. Hàng năm đơn vị tạo điều kiện về thời gian cho 76/145 đ/c tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng chiếm 52,7% (trình độ Thạc sỹ 01 đ/c; Trình độ Cử nhân 08 đ/c; Trình độ Trung cấp CTXH 46 đ/c; Trình độ Trung cấp chính trị: 07 đ/c; Bồi dưỡng về quản lý trợ giúp xã hội trong lĩnh vực tâm thần 05 đ/c;  Bồi dưỡng lớp kỷ năng giao tiếp hành chính 04 đ/c; Bồi dưỡng lớp kỷ năng nghiệp vụ công tác xã hội với người cao tuổi và quản lý ca 09 đ/c). Nhờ sự quan tâm đầu tư đúng mức nên trình độ của VC, NLĐ đã nâng lên góp phần nâng cao công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục-dạy nghề cho đối tượng. Đến nay, trong toàn đơn vị có 22 người có trình độ Đại học-Cao đẳng, 59 người có trình độ TCCN, 04 người có trình độ sơ cấp chiếm tỷ lệ 40% trên tổng số CCVC,NLĐ. Trong giai đoạn này trung bình mỗi năm đơn vị có khoảng 26 VC,NLĐ được cử đi đào tạo, chiếm tỷ lệ 18% tổng số VC,NLĐ và vượt chỉ tiêu 8% so với nghị quyết hội nghị VC,NLĐ hàng năm.

 

Về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn:

Công tác quản lý: Tất cả đối tượng ra vào trại được thực hiện đúng quy trình theo quy định của pháp luật; hồ sơ ra vào trại của đối tượng được quản lý chặt chẽ trên cơ sở pháp lý và thẩm quyền phân cấp. Tỷ lệ bỏ trốn trên tổng quản lý giảm chỉ còn 0,6% (giai đoạn I là 3,0%).

 

Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, Đối tượng được phân thành từng khu nhà riêng biệt theo giới, theo tình trạng sức khỏe để CBVC trực theo dõi, chăm sóc 24/24. Những đối tượng bệnh năng vượt khả năng điều trị được chuyển viện tuyến trên đơn vị cử VC,NLĐ trực theo dõi phục vụ đảm bảo 24/24. Những đối tượng qua đời nếu không có thân nhân được đơn vị tổ chức hỏa táng chu đáo trong điều kiện kinh phí cho phép, sau đó thực hiện quản lý di cốt tại chùa tập trung thờ phụng trang trọng riêng và thờ phụng tại nhà thắp nhang cho đối tượng theo truyền thống của dân tộc. Đời sống của đối tượng luôn được đảm bảo thực hiện đúng chế độ định mức của UBND tỉnh, ngoài ra đơn vị tận dụng nguồn lao động sản xuất, nguồn từ thiện bổ sung thêm khẩu phần ăn cho các đối tượng bình quân mỗi năm là 1.49.534.000đ/năm, 115 lượt/ năm đoàn từ thiện đến thăm và tặng quà, hàng năm đều tăng 28 % đoàn so với cùng kỳ, chủ yếu là trực tiếp trao cho bệnh nhân các mặt hàng như: Sữa tươi, bánh kẹo, nước ngọt, mì gói hoặc nấu trực tiếp cho bệnh nhân ăn. Các mặt hàng khác như gạo, dầu ăn, đường, rau củ quả được Phòng QL-CS tiếp nhận bàn giao cho phòng Nuôi dưỡng sử dụng hợp lý nhằm cải thiện thêm bữa ăn chođối tượng. Nhờ làm tốt công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, trong năm không có xảy ra ngộ độc thực phẩm cho đối tượng. Công tác tư vấn, vấn đàm, tham vấn được áp dụng bước đầu có hiệu quả, qua đó khai thác thông tin người thân tìm và kết nối đưa bệnh nhân có thời gian nuôi dưỡng tại Trung tâm từ  8- 10 năm qua, nay được trở về với gia đình, cộng đồng bình quân 15 ca/năm được đoàn tụ sum họp với gia đình.Từ xã hội hóa, có tham gia của toàn xã hội đã nâng đời sống vật, nơi ăn ở sinh hoạt thể dục thể thao cho các đối tượng ngày càng được chu đoán hơn, hoàn thiện hơn.

 

Công tác chăm sóc sức khỏe – phục hồi chức năng: được sự quan tâm đầu tư đúng mức về nhân lực cũng như trang thiết bị (PHCN), đến nay Trung tâm có đội ngũ viên chức y tế có đủ trình độ, năng lực và kinh nghiệm (01 BS, 02 dược sỹ, 05 kỹ thuật viên phục hồi chức năng và 08 y sỹ) để chăm sóc, điều trị thường xuyên cho hơn 400 bệnh nhân. Mỗi năm lực lượng CBVC y tế thực hiện khám và điều trị nội trú cho khoảng 1000 lượt đối tượng, khám và điều trị ngoại trú khoảng 6000 lượt, phục hồi chức năng cho khoảng 700-800 lượt, cấp phát thuốc cho khoảng 120.000-130.000 lượt…từ đó đã giảm tỷ lệ đối tượng tử vong/tổng quản lý từ 1,2% trong giai đoạn I xuống còn 0,73% trong giai đoạn hiện nay.

 

Công tác giáo dục – dạy nghề, tăng gia sản xuất: đơn vị vẫn luôn đảm bảo 100% đối tượng nhập trại còn khả năng tiếp thu được tư vấn về pháp luật, đạo đức; các đối tượng mù chữ đều được bố trí học văn hóa xóa mù chữ trong thời gian ở tại Trung tâm. Các đối tượng còn lại tùy tình hình sức khỏe, khả năng nhận thức đơn vị bố trí cho lao động trị liệu, lao động hướng nghiệp, gia công hành hóa, sản xuất chăn nuôi nhằm cải thiện thêm đời sống hàng ngày.

 

Công tác tổ chức – hành chính: công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, quy hoạch, đạo tạo -bồi dưỡng, sử dụng CBVC, thi đua khen thưởng và kỷ luật được thực hiện đúng quy định hiện hành. Đơn vị luôn đảm bảo quyền lợi cho 100% CCVC,NLĐ như chế độ nâng lương (theo niên hạn và trước thời hạn) nghỉ phép, lễ, tết, chế độ bảo hiểm…Ngoài ra, các chế độ phúc lợi khác cũng được quan tâm chăm lo đúng mức trong điều kiện có thể như: tham quan du lịch, giày dép, quần áo đồng phục, hỗ trợ cơm trưa, khám sức khỏe thường niên, nhà ở tập thể…Tình hình an ninh trật tự luôn ổn định. Các nội quy, quy chế của đơn vị được sửa đổi bổ sung theo hướng tinh gọn phù hợp với tình hình mới. Công văn đi, đến được xử lý nhanh chóng, chính xác, chế độ văn thư lưu trữ, bảo mật thực hiện đúng quy định của nhà nước.

 

Công tác tài chính: công tác quản lý, sử dụng tài chính, công sản được thực hiện theo luật ngân sách nhà nước; được các đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước và quyết toán kinh phí hàng năm do Sở LĐTB&XH thực hiện đánh giá cao. Các hoạt động chi tiêu, mua sắm luôn được thực hiện đúng tinh thần quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và đảm bảo công khai, dân chủ và có sự kiểm tra giám sát của bộ phận có chuyên môn trong đơn vị.

Nhờ những nỗ lực của tập thể lãnh đạo Chi ủy, Chi bộ, Chính quyền và sự hỗ trợ tích cực của toàn thể VC,NLĐ trong vòng 05 năm trở lại đây đơn vị đã xây dựng được mối đoàn kết vững mạnh. Mọi mặt của đơn vị đều ổn định và phát triển bền vững được lãnh đạo Đảng ủy, Ban Giám đốc ngành LĐTBXH đánh giá cao. Hàng năm Chi ủy – Chi bộ, đã được công nhận “trong sạch vững mạnh”, Công đoàn CSTV được công nhận là “trong sạch vững mạnh xuất sắc”, Chi đoàn TNCSHCM là “Chi đoàn vững mạnh xuất sắc”, Chi hội CCB được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Chi hội Chữ thập đỏ được Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam tặng 01 bằng khen và tập thể đơn vị được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở thành đơn vị BTXH đứng hàng đầu trong ngành. Đặc biệt là năm 2016, 2017 đơn vị đạt Danh hiệu thi đua Tập thể lao động xuất sắc và được tặng Cờ Thi đua

Bài viết mới